Các ứng dụng gọi xe giờ ra sao
Tôi từng có góc nhìn khá tiêu cực về Grab, Uber hay các ứng dụng gọi xe nói chung cách đây nhiều năm. Lý do cốt lõi nằm ở mô hình kinh doanh ban đầu của họ và con đường tới lợi nhuận rất mơ hồ. Bẵng đi vài năm nhìn lại, Uber từ năm 2023 đã báo lãi ròng, doanh thu hợp nhất năm 2024 đạt 44 tỷ USD và tạo ra gần 7 tỷ USD dòng tiền tự do.
Table of Contents
Trong khi đó, năm 2024, Grab đạt doanh thu hợp nhất đạt xấp xỉ 2.7 tỷ đô, tiến sát tới hòa vốn, và tạo dòng tiền nhàn rỗi dương 775 triệu USD, thông qua việc cải thiện biên lợi nhuận của các mảng giao nhận và dịch vụ tài chính. Tôi đánh giá Grab có bảng cân đối vững mạnh với net cash position tại cuối 2024 (lấy tiền và tương đương tiền trừ hết nợ vay vẫn còn dư) đồng nghĩa với khả năng duy trì hoạt động kinh doanh liên tục và trả nợ tốt trong ngắn và trung hạn.
Dĩ nhiên còn quá sớm để khẳng định chất lượng lợi nhuận này bền vững trong bối cảnh sự cạnh tranh vẫn rất gay gắt, rủi ro về pháp lý và vấn đề nhân quyền vẫn còn tồn đọng. Tuy vậy, kết quả ban đầu đã rõ ràng hơn trước rất nhiều.
Phân tích mô hình kinh doanh
Hầu hết ứng dụng này đều bắt đầu bằng dịch vụ gọi xe (ride-hailing) kết nối giữa tài xế và người tiêu dùng cuối. Mục đích là tối ưu tần suất sử dụng xe, từ đó giảm chi phí cho khách hàng và tăng thu nhập cho tài xế.
Tuy nhiên, tôi đánh vấn đề cốt lõi của mô hình kinh doanh này tại thời điểm ban đầu nằm ở chỗ thị trường gọi xe cực kỳ cạnh tranh với rào cản nhập cuộc rất thấp dẫn tới mục tiêu giảm chi phí bị biến tấu. Các nền tảng buộc phải lao vào cuộc đua đốt tiền để giành thị phần với kỳ vọng “winner takes all”.
Ở 1 góc độ khác, rất khó để chỉ ra sự khác biệt lớn giữa dịch vụ của các nền tảng. Theo đó, cả tài xế và người tiêu dùng đều có chi phí chuyển đổi (switching cost) rất thấp. Họ sẽ chạy theo các ứng dụng cho họ mức chiết khấu giảm giá cao nhất (đối với khách hàng) và mức take rate thấp (đối với tài xế và sau này là các người bán). Muốn giữ chân hai nhóm này chỉ bằng chiết khấu và giảm take rate là điều không bền vững.
Vì vậy, để tạo lợi thế cạnh tranh, các nền tảng này sẽ khó theo đuổi câu chuyện gia tăng switching costs cho các đối tác 1 cách tuyệt đối mà họ phải tập trung vào tăng network effect (hiệu ứng mạng lưới).
Hiểu 1 cách đơn giản, khi 1 nền tảng có nhiều tài xế và người dùng đủ lớn, họ sẽ có xu hướng ở lại vì tài xế cần có nhiều cuốc xe nhất có thể còn khách hàng thì muốn nhanh đặt được xe với chi phí thấp nhất có thể. Thử hỏi 1 câu hỏi đơn giản, bạn muốn bắt 1 cuốc xe từ Quận 7 sang trung tâm Quận 1, rõ ràng, sẽ mất rất nhiều thời gian để đặt xe thông qua ứng dụng Be hay SM Xanh so với việc đặt qua Grab.
Muốn network effect duy trì trong dài hạn, nền tảng phải giữ được sự cân bằng cung-cầu tại từng khu vực, từng thời điểm. Nếu thiếu tài xế, khách hàng sẽ từ từ rời đi. Nếu thiếu cuốc xe, tài xế cũng sẽ dần chuyển sang các ứng dụng khác có thu nhập tốt hơn. Duy trì cân bằng này đôi khi quan trọng hơn cả quy mô tổng thể của mạng lưới.
Khi đã có quy mô và thông tin người dùng, các ứng dụng có thể dự đoán nhu cầu và khuyến khích tài xế hoạt động chủ động tại đúng địa điểm vào đúng thời điểm để tối ưu hóa cơ hội kiếm tiền cho tài xế, và cung cấp chuyến đi thuận tiện cho hành khách.
Các nền tảng thực hiện hóa network effect như thế nào?
Có thể thấy các công ty như Grab, Lyft và Uber tập trung chiến lược của mình vào gia tăng hiệu ứng mạng lưới vì đó là biện pháp phòng thủ hiệu quả nhất, giúp chống lại tính chất dễ thay đổi của thị trường dịch vụ theo nhu cầu. Theo đó, trong nhiều năm qua, các ứng dụng này đã chuyển đổi từ mô hình gọi xe đơn thuần ban đầu sang chiến lược super apps.
-
Tăng chiều sâu dịch vụ để khách hàng có nhiều lựa chọn (one-stop shop), và tăng cường tương tác chéo (synergies) giữa các dịch vụ (gọi xe, giao đồ ăn/đơn hàng, dịch vụ tài chính).
-
Gia tăng quy mô người dùng thông qua các chiến dịch chiết khấu, giảm giá và giữ chân đối tác. Ví dụ, Grab sử dụng các chương trình như GrabRewards, GrabUnlimited để tăng tần suất và khối lượng giao dịch trên nền tảng của mình.
-
Tối ưu hóa khả năng kết nối (matching) thông qua nền tảng công nghệ và dữ liệu người dùng (thời gian, quãng đường, nhu cầu, hành vi mua sắm,…) để tăng khối lượng giao dịch.
Nếu không làm được điều này, nền tảng sẽ đối mặt với rủi ro bị các đối thủ cạnh tranh có giá tốt hơn hoặc trải nghiệm người dùng tốt hơn vượt mặt.
Tôi hay ví von tầm quan trọng của hiệu ứng mạng lưới đối với các nền tảng này giống như việc xây dựng một con đường độc đạo trong một khu chợ: Con đường càng đông đúc (nhiều người dùng và tài xế/người bán), thì việc chuyển sang con đường khác càng trở nên không còn hợp lý và tốn kém. Qua đó củng cố vị thế độc tôn của người nắm giữ con đường đó.